Mình đã không còn giữ bất kỳ cổ phiếu nào của Apple (không tính trong các ETFs và MFs). (Bài này chỉ là nhận định cá nhân, không phải financial advices.)
Mình thấy Apple đang gặp vấn đề lớn về Marketing.
Các bạn đừng hiểu sai ý mình. Apple vẫn là một thương hiệu tượng đài và cách làm branding của Apple vẫn là đỉnh của chóp.
Vấn đề của Apple nằm ở Product của tương lai. Mình nghĩ Apple sẽ khó có thể cho ra những sản phẩm đột phá lớn trong thời gian tới. Dự án xe tự lái của Apple đã thất bại sau khi chi 10 tỷ đô vào mà không có kết quả. Apple cũng đang thua trong cuộc chiến AI và không có dấu hiệu gì là có thể đuổi kịp các đối thủ.
Nguyên nhân sâu xa là văn hoá và cách thức tổ chức phát triển sản phẩm mới của Apple đã không còn phù hợp với cách phát triển sản phẩm công nghệ cao hiện nay. Công việc phát triển sản phẩm mới của Apple chú trọng vào tính bí mật. Thông tin được bảo mật rất kỹ trong từng team. Việc của team này làm thì team kia không được biết. Trong khi đó việc phát triển sản phẩm công nghệ cao ngày nay đòi hỏi việc chia sẻ thông tin nhanh chóng vì mọi thứ thay đổi rất nhanh. Thậm chí nhiều công ty phải sử dụng Open Innovation, mở rộng sáng tạo ra ngoài biên giới của công ty để có được những đột phá mới nhất (Nga Ho-Dac, 2020, Journal of Business Research).
Việc phát triển sản phẩm mới trong bí mật đã một thời làm cho Apple có những sản phẩm độc đáo thì ngày nay chính văn hoá và cách tổ chức này ngăn cản Apple đuổi kịp các đối thủ khác trong việc phát triển các sản phẩm công nghệ cao đòi hỏi sự trao đổi thông tin liên tục và rộng rãi. Văn hoá và cách thức tổ chức công việc là những điều rất khó thay đổi đối với một công ty lớn như Apple cho nên mình không mấy lạc quan về những sản phẩm đột phá của Apple trong tương lai.
Việc phát triển sản phẩm trong bí mật cũng khiến cho Apple sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc truyền thông Marketing cho các sản phẩm mới công nghệ cao sau này. Các sản phẩm công nghệ ngày nay phần lớn là dạng Continuous Improvement Products (Nga Ho-Dac et al. 2020, Journal of the Academy of Marketing Science), những sản phẩm vẫn được tiếp tục cải tiến liên tục sau khi mua (thông qua các updates và upgrades). Khi mua các sản phẩm này, khách hàng không chỉ mua các sản phẩm ở dạng hiện tại và còn mua “lời hứa” cho những nâng cấp sau khi mua. Nhiều khi những nâng cấp sau khi mua còn quan trọng hơn sản phẩm hiện tại đối với nhiều khách hàng khi ra quyết định mua. Ví dụ như việc chọn một con AI ngày nay không chỉ dựa vào khả năng của con AI đó ở hiện tại mà còn là đánh cược vào khả năng được nâng cấp của nó ở trong tương lai.
Để đánh giá những “lời hứa” nâng cấp này, khách hàng cần có những credible signals từ công ty sản xuất. Theo Nga Ho-Dac et al. (2020), tính minh bạch (transparency) của các hoạt động phát triển sản phẩm có đóng góp rất lớn trong việc xây dựng độ tin cậy (credibility) của các “lời hứa” nâng cấp này. Với cách thức phát triển sản phẩm trong bí mật của mình, Apple rất khó để có thể tạo ra được các credible signals cho những “lời hứa” nâng cấp của mình. Truyền thông Marketing cho các Continuous Improvement Products là phải bao gồm luôn việc minh bạch hoá công việc phát triển sản phẩm.
Các chỉ số tài chính của Apple vẫn đang rất tốt. Brand và branding của Apple vẫn đang rất đỉnh. Nhưng mình đầu tư thường sẽ nhìn xa hơn về Marketing của một công ty. Dựa trên kết quả của 2 nghiên cứu của mình về Product Development và Product Adoption, mình nghĩ rằng cách phát triển sản phẩm trong bí mật của Apple sẽ là một trở ngại rất lớn cho Apple trong tương lai, cả về mặt Product lẫn Communication.
Nếu bạn muốn biết những kiến thức mới nhất trong Marketing và cách thức áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn giống như trong bài viết này, xin vui lòng tìm hiểu về lớp Marketing. Hôm nay (21/10) là hạn cuối cho học phí ưu đãi đăng ký sớm.
Reference:
– Using product development information to spur the adoption of continuous improvement products
NN Ho-Dac, M Kumar, RJ Slotegraaf – Journal of the Academy of Marketing Science, 2020
-The value of online user generated content in product development
NN Ho-Dac – Journal of Business Research, 2020